Friday, March 18, 2016
Tuesday, March 15, 2016
Hạn hán ảnh hưởng tới hàng chục tỉnh thành của Việt Nam
Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng. - Ảnh tư liệu TT. Ảnh chụp màn hình trang web tuoitre.vn
16.03.2016
Người phát ngôn của Liên Hiệp Quốc Stephane Dujarric cho biết, các quan chức của tổ chức này tại Việt Nam đã cảnh báo rằng “hạn hán nghiêm trọng và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đang ảnh hưởng” tới 39 trong số 63 tỉnh ở Việt Nam.
Trong buổi họp báo hàng ngày, ông Dujarric nói: Tính đến ngày 10 tháng 3, ước tính có khoảng 195.200 hộ gia đình không có nguồn cung cấp nước đầy đủ để đáp ứng nhu cầu. Ông cho biết: “Khoảng 10 tỉnh đã công bố tình trạng khẩn cấp”.
Ông Dujarric nói, theo giới hữu trách, 159.000 hecta ruộng lúa đã mất, gây tổn thất kinh tế lên đến 10.5 triệu đôla và thêm 500.000 hecta có nguy cơ bị mất vào giữa năm 2016.
Ngày 14/3, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng cho biết, Việt Nam đã thông qua kênh ngoại giao đề nghị phía Trung Quốc gia tăng lưu lượng xả nước từ Thủy điện Cảnh Hồng (Vân Nam, Trung Quốc) xuống hạ lưu sông Mê Kông để khắc phục tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tại một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Đáp lại, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng hôm nay cho biết sẽ tích cực phối hợp, sớm triển khai kế hoạch xả nước khẩn cấp trong thời gian từ ngày 15-3 đến 4-4-2016.
Những tháng với lượng mưa dưới mức trung bình đã gây ra hạn hán tồi tệ nhất tại Việt Nam trong vòng 100 năm qua.
Kiểu thời tiết El Nino đang diễn ra được cho là nguyên nhân chính của việc thiếu mưa, gây ảnh hưởng đến Việt Nam.
Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất chịu ảnh hưởng của hạn hán. Các nước láng giềng Campuchia , Lào, Thái Lan và Myanmar đã trải qua tình trạng thiếu nước, hậu quả của hiện tượng thời tiết này.
Theo ShanghaiDaily, Tuổi trẻ
Monday, March 14, 2016
Khơi Dòng Sử Việt 006:
https://www.youtube.com/watch?v=yGOnyWZ7jPw&feature=youtu.be
NDT
Attachments area
Preview YouTube video KhoiDongSuViet 006
...Continue Readinghttps://www.youtube.com/watch?v=yGOnyWZ7jPw&feature=youtu.be
NDT
Attachments area
Preview YouTube video KhoiDongSuViet 006
Thứ Hai ngày 07-03-2016
QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
1. Trải qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta có bao nhiêu tên nước?
Trong suốt dòng lịch sử, Hán tộc thường xuyên xâm lược nước ta khiến tộc Việt đã phải rời bỏ quê hương xa xưa ở Trung Quốc xuống phần lãnh thổ Việt Nam hiện nay. Lịch sử Việt là lịch sử trường kỳ chiến đấu chống kẻ thù truyền kiếp Hán tộc phương Bắc. Bản chất xâm lược bành trướng cố hữu của Hán tộc xuyên suốt dòng lịch sử, biết bao lần Hán tộc đem quân xâm lược nước ta đều bị thảm bại nhục nhã. Tinh thần bất khuất hào hùng của dân tộc Việt tô thắm cho trang sử chiến đấu để Tổ Quốc Việt Nam trường tồn, dân tộc Việt Nam bất diệt.
Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Dân tộc Việt đã phải chịu đựng gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử của Ngô Quyền năm 938 đã mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc Việt. Trải qua gần một ngàn năm thanh bình thịnh trị thì thực dân Pháp đã xâm chiếm rồi đô hộ dân tộc Việt gần một trăm năm. Toàn dân Việt đã vùng lên chiến đấu giành độc lập dân tộc, phong trào kháng chiến đã bị đảng Cộng sản Việt Nam lợi dụng để Quốc tế Cộng sản thỏa hiệp với thực dân Pháp ký hiệp định Genève 20-7-1954 chia đôi đất nước. Ngày 20-12-1960 Cộng sản Việt Nam thành lập cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, kích động lòng yêu nước của nhân dân để xâm chiếm miền Nam Việt Nam, bành trướng chủ nghĩa Cộng sản xuống Đông Nam Á, đưa dân tộc vào cuộc chiến tranh ý hệ tương tàn. Sau khi xé bỏ hiệp định Paris, Cộng Sản Việt Nam đã xâm chiếm miền Nam, đưa dân tộc vào vòng nô dịch của văn hoá Mác Lê dưới sự thống trị bạo tàn của tập đoàn Việt gian Cộng Sản.
Trong suốt dòng lịch sử, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc đã xâm lược nước ta 26 lần và thống trị dân tộc Việt 9 lần tổng cộng 859 năm. Sau gần một ngàn năm bị Hán tộc thống trị, với sức sống mãnh liệt vô biên, dân tộc Việt vẫn vùng lên đánh đuổi kẻ thù truyền kiếp mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc. Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại, sự thật của lịch sử đã được phục hồi cho chúng ta biết rằng nền văn hóa Hòa Bình là nền văn hóa tối cổ của nhân loại và Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất. Truyền thuyết khởi nguyên dân tộc được đối chiếu với các nguồn thư tịch cổ và được kết quả khoa học của các khoa Huyết học, Khảo Tiền sử, Đại Dương học và kết quả phân tích cấu trúc mã di truyền DNA xác minh tính hiện thực của thời kỳ lập quốc với quốc gia Xích Quy sơ khai của tộc Việt.
Việt Nam chúng ta đã trải qua 16 lần đổi tên nước từ nhà nhước thuở ban sơ Xích Quy, Văn Lang, Việt Thường, Âu Lạc, Nam Việt, Hùng Lạc, Vạn Xuân (541-602) thời Lý Nam Đế, Đại Cồ Việt thời Đinh, Đại Việt Thời Lý Trần, Đại Ngu thời Hồ Quý Ly, Việt Nam thời Gia Long, Đại Nam thời Minh Mạng, quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại, VNDCCH thời Hồ Chí Minh, Việt Nam Cộng Hòa thời Ngô Đình Diệm và CHXHCNVN sau ngày Quốc hận 30-4-1975.
2. Quốc hiệu, tên nước đầu tiên của chúng ta là gì?
QUỐC GIA XÍCH QUY
Theo truyền kỳ lịch sử khởi nguyên dân tộc thì Đế Minh phong cho Đế Nghi làm vua phương Bắc và Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục lên ngôi năm Nhâm Tuất 2.879 TDL cùng với Đế Nghi phương Bắc, đặt tên nước là Xích Quỷ và lấy hiệu là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương là thủ lĩnh của châu Kinh và châu Dương lập quốc tại vùng đất trải dài từ Tam Giang Bắc gồm 3 con sông Vị, sông Lạc, sông Hoàng Hà xuống Tam Giang Nam gồm 3 con sông Nguyên, sông Tương và sông Dương Tử. Sách xưa gọi vùng đất này là Xích Quy Phương, còn có tên khác là Cửa Việt hay Giao Chỉ. Xích Quy Phương là vùng đất đỏ trồng lúa nên Kinh Dương Vương lấy tên đất đặt tên nước ta là Xích Quy, đóng đô ở châu Phong thuộc vùng núi Dân Ba Thục tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ.
Tuesday, March 8, 2016
Tản mạn về thiện nguyện
Hoạt động thiện nguyện ngày nay trở thành một trách nhiệm bình thường, hiển nhiên và không thể thiếu trong đời sống công dân ở một quốc gia dân chủ tự do. Ngược lại, ở các quốc gia độc tài và chậm tiến như Việt Nam, thiện nguyện không những chưa được chú ý mà còn bị trấn áp dưới bàn tay sắt của chính quyền.
Ở một xã hội văn minh, một người chưa thể được đánh giá là một thành viên tốt của cộng đồng, một công dân có trách nhiệm đối với quốc gia và xã hội nếu chưa là một người làm thiện nguyện tích cực. Các công ty ở Hoa Kỳ, khi tuyển dụng nhân viên, rất chú tâm đến những hồ sơ xin việc của các cá nhân có lịch sử hoạt động thiện nguyện dày dặn và có đóng góp cụ thể, tích cực vào những thăng tiến cộng đồng.
Hoạt động thiện nguyện là gì? Đó là những hành động được thực hiện một cách tự nguyện (không bị thúc ước) và vô vị lợi (không mong chờ được đền bù) mà cá nhân thực hiện để đóng góp phần mình vào công việc chung của cộng đồng, nhằm thăng tiến những định chế tốt đẹp, loại bỏ những định chế có hại và lỗi thời, góp tay với nhà nước thực hiện một chính sách, hoặc đơn giản chỉ là hiện thực hoá một số các mục tiêu cụ thể vì lợi ích chung của cộng đồng.
Thiện nguyện không chỉ là từ thiện (sự đóng góp tiền của) mà còn phức tạp và cần nhiều nỗ lực (thời gian, công sức, chất xám) hơn thế nhiều. Thiện nguyện không chỉ là đến tận hiện trường tiếp xúc với đối tượng phục vụ mà còn là những ngày dài ngồi ở bàn làm việc với các ý tưởng, dự án, kế hoạch hành động. Thiện nguyện không chỉ là để lên tiếng và bảo vệ những người không có tiếng nói và bị gạt ra bên lề xã hội; mà còn là vận động công khai hoặc âm thầm để thay đổi các quy tắc xã hội (về văn hoá, kinh tế, chính trị)…
Hoạt động thiện nguyện cho chúng ta thấy ý chí tự chủ và khả năng tự gánh vác của người dân trong các công việc liên quan đến phúc lợi của mình. Mức độ phát triển của văn hoá thiện nguyện cho thấy khả năng tự thoả thuận và tự quản của người dân trong các nỗ lực cần sự hợp tác của nhiều cá nhân trong cộng đồng.
Sự lành mạnh của hoạt động thiện nguyện, do đó, là một chỉ số cho thấy trình độ làm chủ xã hội (cũng là mực độ xứng đáng với tự do) của người dân một nước. Nghĩa là, họ không ngồi đợi nhà nước rót ngân sách để thực hiện một công tác cộng đồng nào đó, mà sẵn sàng ngồi lại với nhau để vạch ra một kế hoạch mà họ, những thường dân, tự làm lấy cho chính mình.
Họ không ngồi chờ nhà nước cấp ngân khoản và ra lệnh cho chính quyền địa phương triển khai các điều luật hay các cơ quan kiểm soát về việc chống tội phạm ma tuý ở trẻ vị thành niên, chẳng hạn, mà tự ngồi lại với nhau lập nên các tổ chức, các cuộc vận động, các chường trình giáo dục cho lứa tuổi này…
Nói đến đây, chúng ta thấy thiện nguyện chính là tinh thần cốt lõi của xã hội dân sự. Xã hội dân sự, nghĩa là các hội đoàn, các hợp tác xã, các tổ chức vô vị lợi…, không thể tồn tại nếu không có tinh thần thiện nguyện. Chúng ta thấy, mặc dù các tổ chức xã hội dân sự có thể dành một phần ngân quỹ của mình để trả lương cho một số nhân viên chuyên trách, nhưng phần lớn các hoạt động của họ chỉ có thể được thực hiện bằng một mạng lưới tình nguyện viên rộng lớn. Đôi khi họ chỉ có một tá nhân viên được trả lương chỉ để điều phối vài chục ngàn tình nguyện viên khắp châu lục, thậm chí khắp thế giới.
Mối liên quan nào giữa thuế và hoạt động thiện nguyện? Thuế là một nghĩa vụ, nghĩa là nó bị cưỡng buộc, không thực hiện là bị trừng phạt. Thuế cũng không phải là một hành động không mong muốn sự đáp trả như hoạt động thiện nguyện. Đóng thuế để việc kinh doanh được pháp luật bảo vệ, và nhiều khi các khoản thuế doanh nghiệp khổng lồ vào kho bạc còn giúp mang lại tiếng nói đầy trọng lượng cho người đóng thuế trong tiến trình hình thành chính sách quốc gia. Nói tóm lại, việc đóng thuế đi kèm với lợi ích nhận được từ người nhận thuế (nhà nước) và sự gia tăng vai trò của kẻ đóng thuế.
Người dân đóng thuế để trả tiền cho nhà nước thực hiện các công việc mang lại phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, vận chuyển công cộng, trợ cấp thất nghiệp… Nghĩa là chúng ta (người dân) giao cho nhà nước nhiều chức năng hơn, khiến nó cồng kềnh hơn, và tất nhiên nhiều quyền lực hơn. Ngược lại, người dân làm thiện nguyện, nghĩa là gánh vác (hay tước đi) bớt từ nhà nước những công việc mà tự họ (với khả năng tự giao ước và tự hợp tác) có thể hoàn thành, thậm chí hoàn thành tốt hơn nhà nước. Từ đó, ý thức làm chủ của người dân được nâng cao, nhà nước bớt cồng kềnh, bớt cơ hội khuếch trương quyền lực và sự can thiệp của mình vào đời sống dân sự.
Tóm lại, thiện nguyện và đóng thuế không những khác nhau mà còn đối lập sâu sắc, một bên, là nghĩa vụ cưỡng ép, mong chờ nhận lại điều mình cần từ kẻ nhận thuế, giao nhiều trách nhiệm cho quyền lực chính trị hơn; bên kia, là tinh thần tự nguyện, không làm cũng không bị trừng phạt, mà làm là vì mục tiêu chung chứ không vị lợi cá nhân và giành lại nhiều trách nhiệm cũng như vai trò cho người dân thường hơn.
Tôi từng ngạc nhiên đến độ không thể tham gia câu chuyện khi một anh bạn đồng hương quả quyết: người ta đóng thuế là đã đóng góp cho xã hội rồi. Không, đóng thuế chỉ là nghĩa vụ để anh được sống trong một quốc gia có quân đội phòng bị ở biên giới, có một hệ thống pháp luật để an ninh và tài sản của anh được bảo vệ, để có một nhà nước vận hành các định chế quyền lực của nó nhằm đảm bảo một cuộc sống chung của anh với cộng đồng diễn ra một cách văn minh chứ không giống với cuộc sống trong rừng thuở hồng hoang. Làm thiện nguyện có ý nghĩa to lớn hơn thế nhiều, nó giúp anh và những người dân thường khác làm chủ cuộc sống và tương lai của mình, giám sát nhà nước và doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích thiểu số và duy trì nền dân chủ.
Tất nhiên, hoạt động thiện nguyện không tự dưng mà có, nó cần một số định chế chính trị và pháp luật để phát khởi, tồn tại và phát triển. Thể chế chính trị và hệ thống luật pháp ở Việt Nam hiện nay làm nản lòng mọi cố gắng đóng góp thiện nguyện để thăng tiến lợi ích cộng đồng và xã hội. Nhiều trí thức Việt Nam còn chưa cảm nghiệm hết tầm quan trọng của hoạt động này cũng như của xã hội dân sự. Các tầng lớp dân chúng thì không nhìn thấy trách nhiệm của họ trong những đóng góp dân sự thay đổi cộng đồng. Muốn thay đổi Việt Nam, chúng ta không ngại thiếu các đảng phái tham gia vào cuộc tranh giành quyền lực chính trị, chỉ ngại xã hội dân sự quá non yếu để giám sát cuộc chơi quyền lực ấy một cách tỉnh táo.
Vì thế, trong cuộc trò chuyện với ông Thomas Opperman, nghị viên thuộc đảng SDP của Cộng Hoà Liên Bang Đức gần đây, khi được hỏi tôi có dự định tham chính không. Tôi trả lời: hiện tại tôi muốn đứng bên cạnh phe yếu, tức xã hội dân sự hơn, xã hội chính trị có nhiều người làm rồi.
Huỳnh Thục Vy
Buôn Hồ, 8/3/2016
Monday, March 7, 2016
8/3 chính quyền Gia Lai đàn áp phụ nữ và trẻ con
Sáng 7/3/2016, chị Trần Thị Hồng gặp ông Garrett Harkins, tuỳ viên chính trị của Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, để trình bầy về việc chồng chị - mục sư Nguyễn Công Chính hiện nay đang bị ngược đãi và khủng bố tinh thần trong trại giam Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Vì chính quyền ra sức ngăn cản bất cứ phái đoàn ngoại giao nào đặt chân lên Tây Nguyên nên việc phía Hoa Kỳ muốn đến viếng thăm gia đình chị Hồng gần như bất khả sau cuộc gặp của gia đình chị với đặc phái viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Katherine Lawson năm 2014 tại Pleiku. Lần này, chị phải đích thân đến gặp họ.
Cũng nên nhắc lại, gia đình mục sư Nguyễn Công Chính là một trong số những nạn nhân bị đàn áp khốc liệt nhất vì những nỗ lực đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo của người sắc tộc ở Tây nguyên. Họ từng bị chính quyền Kon Tum và Gia Lai ủi sập nhà nguyện (cũng là nhà ở) tại làng Con R'Bàng, xã Vinh Quang thuộc tỉnh Kon Tum. Hơn chục năm qua, hai vợ chồng mục sư bị an ninh côn đồ theo dõi, đánh đập, khủng bố tinh thần liên tục trước khi chính quyền bắt mục sư Chính và áp đặt lên ông bản án 11 năm.
Trong lúc ở Sài Gòn diễn ra cuộc gặp của chị Hồng với ông Harkins, ở Gia Lai, công an Gia Lai đã mang lực lượng hàng chục người xông vào nhà chị Hồng đòi kiểm tra hộ khẩu, thực chất là để khiến các con chị (đều còn rất nhỏ, từ 5-13 tuổi) hoảng sợ. Các cháu hiện tại vẫn chưa hết bàng hoàng vì sự xâm nhập bất hợp pháp của an ninh Gia Lai vào nhà mình trong khi ở nhà không có người lớn.
Hiện tại trưa 8/3/2016, công an vẫn đóng chốt canh trước con đường độc đạo dẫn vào nhà chị. Việc đối mặt với sự theo dõi, canh gác, đe doạ của an ninh từ lâu đã là cuộc sống hằng ngày của mẹ con chị Hồng. An nguy của mục sư Chính trong tù và mẹ con chị Hồng ở ngoài đang cần sự quan tâm đặc biệt của công luận.
Cần nói thêm, chị Hồng hiện tại là thành viên tích cực của hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam.
Để biết thêm thông tin, xin liên lạc với chị Trần Thị Hồng, Hẻm 169, đường Cách Mạng Tháng Tám, Tổ 10, Phường Hoa Lư, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Số điện thoại: 0905198832
VNWHR – 8/3/2016
Sunday, March 6, 2016
KHƠI DÒNG SỬ VIỆT
https://www.youtube.com/watch?v=pwTNwsAfHE0&feature=youtu.beAttachments area
Preview YouTube video KhoiDongSuViet 005
KhoiDongSuViet 005...Continue Reading
Khoi Dong Su Viet 005
Subscribe to:
Posts (Atom)











