Tuesday, December 16, 2014



Các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự Tại VN Ký Tên Vào Tuyên Bố
Tuyên bố về hai vụ án tử hình
Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải


​
 Kính gởi  

- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước
- Chính phủ và Quốc hội các quốc gia dân chủ
- Các tổ chức nhân quyền quốc tế và các hãng thông tấn hoàn vũ
- Các cơ quan tư pháp tại các nước văn minh.

Từ 6-7 năm nay, có hai tù nhân là Nguyễn Văn Chưởng (sn 1983) và Hồ Duy Hải (sn 1985), bị tòa án sơ thẩm lẫn phúc thẩm Việt Nam kết án tử hình, đã liên tục kêu oan và sống trong khắc khoải. Gia đình họ cũng phải bỏ công ăn việc làm, thậm chí tán gia bại sản để đi đòi công lý cho người thân trong đau khổ và tuyệt vọng. Nỗi bất hạnh tột cùng này lên đến đỉnh điểm khi bản án tử được thông báo sẽ thi hành cuối năm nay (đối với NVC) và có thể đầu năm tới (đối với HDH). Tin tức này cũng khiến công luận và báo chí đòi xét lại toàn bộ hai vụ án, vì có vô số điều phi lý, mâu thuẫn, mờ ám, oan ức do chính các luật sư, gia đình lẫn công luận nêu ra.

1- Sự kiện


a- Vụ án Nguyễn Văn Chưởng.

 Đây là việc 1 thiếu tá công an ở Hải Phòng bị giết chết đêm 14-7-2007. Vụ án có 3 bị cáo gồm Vũ Đoàn Trung, ở Hải Phòng, nhận tội, 23 năm tù giam; Đỗ Văn Hoàng, ở Hải Phòng, không nhận tội, tù chung thân; và Nguyễn Văn Chưởng, ở Hải Dương (bị Vũ Đoàn Trung tố cáo là chủ mưu), không nhận tội, tử hình.

Tháng 7 năm ấy, bị cáo Nguyễn Văn Chưởng cùng với em trai đang lao động ở Hải Phòng. Tuy nhiên, cả 2 không có mặt tại đó vào thời điểm xảy ra án mạng (vì họ thường về thăm nhà ở thôn 1, xã Bình Dân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mỗi cuối tuần). Nhiều người thân lẫn người dân trong thôn đã làm chứng về sự có mặt của 2 anh em đêm 14-7-2007, xa phạm trường tới 40km. Thế nhưng lời khai của các nhân chứng bị cơ quan điều tra hoặc xuyên tạc (như bà Nguyễn Thị Bích, mẹ bị cáo) hoặc dùng tra tấn để phải rút lại (như chị Nguyễn Thị Bảy, vợ bị cáo hoặc nhiều người dân trong làng). Các nhân chứng ấy lại không được ghi lời khai trong bản án cũng chẳng được triệu tập đến tòa trong ngày xử.

Nhiều tình tiết cho thấy công an đã áp đặt tội cho Nguyễn Văn Chưởng ngay từ khi khởi sự điều tra. Đó là bắt giam Nguyễn Trọng Đoàn (em của Chưởng) khi anh này đem đơn của mẹ kêu oan cho con (10-08-2007), sau đó kết án anh 2 năm tù vì “che giấu tội phạm”. Đó là tra tấn dã man bị cáo Chưởng và nhiều chứng nhân để hủy bằng cớ ngoại phạm của anh. Đó là trong hồ sơ vụ án, giấy tờ giám định thương tích của Chưởng, lời khai của nhiều nhân chứng không có; chữ ký của Đoàn bị giả mạo; lời khai của hai bị cáo Vũ Toàn Trung và Trần Thị Lan Phương (người yêu) rất mâu thuẫn nhau; yêu cầu của Chưởng xin được khôi phục các cuộc điện thoại của mình tối ngày 14 và sáng ngày 15-07-2007 cũng bị lờ hẳn.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn gây khó khăn và chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa (hơn 3 tháng so với qui định là 3 ngày) khiến nhiều cuộc thẩm vấn bị cáo và nhiều biên bản lời khai không có luật sư tham dự (hay nếu có thì công an chẳng giới thiệu là luật sư). Đến ngày xét xử, tòa án chẳng triệu tập nhân chứng nào cũng không cho các bị cáo đối chất với nhau. Chưởng kêu bị tra tấn nhục hình thì Hội đồng xét xử bác bỏ vì cho rằng trong biên bản không ghi điều đó. 

Nhận thấy vụ án bất công, gia đình thuê luật sư bào chữa thì được trả lời:
 “VN không có luật! Nếu thực hiện đúng luật thì chúng tôi có thể cãi cho ông. Luật như các nước khác thì chúng tôi cãi được còn VN không có luật nào cả. Luật của ‘chúng nó’ nên chúng tôi chịu thua” (RFA 3-12-2014). Sau đó, thấy bản án oan ức, thân phụ bị cáo cho biết: đã làm “đơn gửi văn phòng Chủ tịch nước hàng ngàn lá. Tôi cũng đã lên tận nhà riêng ông Trương Tấn Sang, đã gửi kể cả đơn bằng máu mà báo Người Đưa Tin chụp tung lên mạng… nhưng hiện nay không có phản hồi nào” (RFA 3-12-2014). 

Hiện cả gia đình và nạn nhân không làm đơn xin ân xá mà chỉ kêu oan vô tội.

​
b- Vụ án Hồ Duy Hải.

Đây là vụ 2 nữ nhân viên bưu điện bị hãm hiếp, giết chết đoạn cướp của ngày 14-01-2008 ở bưu cục Cầu Voi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An mà chẳng có ai chứng kiến. Khoảng 3 tháng sau, cơ quan công an điều tra tỉnh bắt sinh viên Hồ Duy Hải. Rồi cả hai cấp tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên án tử hình cho anh về các tội “giết người”, “cướp tài sản”.

Tuy trong các bản khai, Hồ Duy Hải có thừa nhận tội lỗi, nhưng trước hai tòa và khi gặp thân nhân, anh đều kêu oan và cho biết mình đã bị tra tấn dã man nên phải ký nhận những bản khai viết sẵn. Trong phiên sơ thẩm ngày 28-11-2008, luật sư bào chữa Nguyễn Văn Đạt đã đưa ra đến 41 điểm sai phạm trong quá trình tố tụng và điều tra xét hỏi, như không có vật chứng (các dấu vân tay tại phạm trường chẳng phải là của bị cáo, con dao và tấm thớt gây nên cái chết cho 2 nạn nhân là đồ đi mua ở chợ về sau, mẫu máu và tóc lại để tới 5 tháng sau đó mới xét nghiệm), cũng không có nhân chứng xác nhận bị cáo có mặt tại phạm trường. Không chi tiết nào trong 41 chi tiết này được cơ quan điều tra giải đáp. Đến phiên xử tiếp, luật sư chỉ định Nguyễn Thành Quyết đã không bào chữa, lại còn “xin nhận tội” và “xin được hưởng” án chung thân giùm cho bị cáo !?! 
Trong đơn đề nghị giám đốc thẩm viết ngày 11-01-2012, luật sư Trần Hồng Phong cũng chỉ ra vô số điểm mâu thuẫn (đặc biệt các lời khai của nhiều nhân chứng trong bút lục đã bị sửa chữa mà chẳng có chữ ký xác nhận của họ) để rồi nhận định:

 “Việc xét xử phiến diện, thiếu khách quan, bất chấp kết quả giám định khoa học, bỏ qua tình tiết ngoại phạm của bị cáo; kết luận trong bản án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm sai lệch hồ sơ vụ án; áp dụng pháp luật không đúng, xét xử sai tội danh”.

Ngoài ra, sau khi vụ án xảy ra, nhiều tờ báo đã có bài viết, nêu nhiều tình tiết cho thấy hung thủ có thể là một kẻ khác và đã được cơ quan điều tra lấy lời khai ngay từ khi mới phát hiện vụ việc (như Thanh Niên ngày 16-01-2008; Người Lao Động ngày 17-01-2008). Thế mà toàn bộ các tình tiết ấy đã không nằm trong hồ sơ. Đó là chưa kể có mật lệnh cấm nhiều tờ báo không được viết gì về vụ Hồ Duy Hải !?!

Sau khi có bản án tử hình, bị cáo Hải và gia đình không viết đơn xin ân xá (dù có bị ép) gửi đến Chủ tịch nước mà chỉ liên tục kêu oan vì họ cho rằng anh không có tội. Sáu năm qua, gia đình đã gửi đơn khắp nơi đề nghị giám đốc thẩm để giải oan cho anh, nhưng đều chỉ nhận được trả lời là “đã đúng người đúng tội” hay “hết thẩm quyền xử lý vụ án”. Bà mẹ còn tìm đến Quốc hội, nhà riêng của các lãnh đạo cao cấp để kêu cứu nhưng vô vọng. Thậm chí bà còn bị dọa đổ keo vào miệng để không la được nữa, còn dì ruột của Hải thì bị công an côn đồ đánh cho thâm tím tay chân khi hai bà căng băng-rôn biểu tình trước cổng Tòa án tối cao ngày 28-11-2014. 

2- Nhận định và tuyên bố

Trước những vụ việc trên đây, các tổ chức xã hội dân sự nhận định và tuyên bố:

a- Vì tại Việt Nam chỉ có tam quyền phân công chứ không phân lập, nền tư pháp hoàn toàn nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, chi phối toàn diện của đảng Cộng sản, nhằm bảo vệ sự tồn tại của đảng bằng mọi giá chứ không nhắm bảo vệ tính mạng và quyền lợi người dân, nên nhiều vụ án oan khốc đã xảy ra xổ toẹt luật pháp, thách thức công luận, với những bức cung, nhục hình, với cáo trạng dối, chứng cứ giả, với âm mưu cá nhân và ý đồ tập thể... Ở hai vụ án trên, hai chàng thanh niên bị bắt một cách tình cờ (vì không có mặt tại hiện trường), kết tội chỉ bằng "lời khai" là chủ yếu, không cần những vật chứng, lý chứng, nhân chứng có sức thuyết phục. Cũng như “nhà nước được đẻ ra từ nòng súng”, lời khai đó đã  được đẻ ra từ đấm đá đòn vọt, theo thói "không có tội thì đánh cho có, có tội thì đánh cho chừa". Biện pháp dùng tra tấn, nhục hình để mớm cung, ép cung là chuyện chẳng ai lạ ở VN, khi mà cơ quan điều tra luôn cho mình có quyền hành động bí mật, loại bỏ vai trò luật sư trong tiến trình thẩm vấn.

b- Việc công an nhất quyết cho hai bị cáo là thủ phạm dù giữa bản thân và gia đình họ với công an chẳng có tư thù, điều ấy có thể lý giải bằng hai cách. Một là sau thời gian không tìm ra thủ phạm (vụ HDH) hoặc không tìm ra bằng chứng nơi kẻ bị coi là thủ phạm (vụ NVC), rồi bị áp lực đạt chỉ tiêu phá án để bảo vệ thành tích của đơn vị, công an đã bắt đại một người nào đó để kết tội hay kết tội đại một người nào đó đã bắt. Chẳng may HDH và NVC trở nên vật tế thần. Hai là công an biết rõ thủ phạm thật của vụ việc, nhưng thủ phạm này lại là kẻ có quyền hoặc có tiền và đã biết dùng tiền hoặc quyền để khuynh đảo công lý. Việc đề nghị khởi tố hai nạn nhân với án tử hình nếu thành công thì vừa cứu thoát người được che chở vừa tránh hậu họa, vì một lý do nào đó, thủ phạm đích thực bị bắt hay ra đầu thú, sẽ khiến công an bị kết tội gây án oan sai như vụ "tù oan 10 năm Nguyễn Thanh Chấn".
c- Khi hồ sơ điều tra chuyển lên viện kiểm sát, viện này có hai chọn lựa: hoặc miễn tố 2 bị cáo với lý do không đủ chứng cớ, hoặc giúp công an bảo vệ thành tích phá án bằng cách khởi tố họ dựa trên biên bản điều tra. Kiểm sát và công an là hai cơ quan cùng thuộc bộ tư pháp, dưới quyền chỉ đạo của cùng một đảng, nghĩa là có quan hệ "người nhà". Cho nên việc kiểm sát giúp công an bảo vệ thành tích phá án là điều dễ hiểu.

 Khi hồ sơ được viện kiểm sát chuyển sang tòa án để xét xử, quan hệ "người nhà" giữa tòa án và công an cùng viện kiểm sát lại được vận dụng. Tòa án cũng có hai chọn lựa, hoặc xét thấy không đủ yếu tố buộc tội nên trả nội vụ về công an điều tra lại, hoặc kết án bị cáo theo hồ sơ điều tra. Thực tế, việc chuyển hồ sơ về lại công an chỉ mất thì giờ chứ kết quả điều tra lại thường không thay đổi, nên khuynh hướng của tòa án là căn cứ trên hồ sơ của công an để xét xử và luận tội. Mà một khi chọn giải pháp kết án thì cũng do lo sợ hậu quả là sẽ có thể bị khuyết điểm xử sai, mất thành tích công tác, nên tòa án sẽ đồng lõa với công an và kiểm sát kết án tử hình cho xong chuyện, chưa kể là còn hưởng mối lợi từ thủ phạm thật đang có quyền hoặc có tiền. Rồi để chắc chắn bản án không bị bác bỏ, tòa sơ thẩm đã hội ý trước với tòa phúc thẩm để thống nhất bản án. Việc này mang tính cách "thông đồng", trái với nguyên tắc độc lập của việc xét xử. Nhưng đó là trình tự thông thường diễn ra đằng sau các vụ án quan trọng của hệ thống tư pháp Việt Nam.
d- Do đó chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu nhà cầm quyền CSVN phải xét lại toàn bộ hai vụ án (và nhiều vụ án tử hình khác nữa). Không thể chấp nhận việc bắt người vô tội chết thế cho thủ phạm đích thật hoặc đem sinh mạng dân đổi lấy thành tích cho ngành và giữ lấy quyền lực cho đảng. Chúng tôi cũng kêu gọi quốc dân và quốc tế ý thức rõ ràng để hợp lực xóa bỏ tình trạng một nhóm người chiếm độc quyền cai trị cả nước, tự tung tự tác hơn nửa thế kỷ, đang sinh ra những đám mafia thao túng tất cả các lãnh vực, từ kinh tế, văn hóa, chính trị đến tư pháp, bất chấp đạo đức lẫn công lý, lương tâm lẫn tình người. Nếu ai cũng im lặng mà bỏ qua thì rồi có thể một ngày nào đó, bất cứ công dân Việt vô tội nào cũng sẽ là một nạn nhân như Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải. Chúng tôi cũng kêu gọi “Các bà mẹ bà vợ bị oan ức, hãy đoàn kết lại!” (như “Các bà mẹ Thiên An Môn” bên Tàu) để đứng lên tranh đấu, ngõ hầu bảo vệ mạng sống và tự do của con, của chồng mình, cứu bao nhiêu nạn nhân vô tội có thể bị nền tư pháp mafia giết trong tương lai.

Làm tại Việt Nam ngày 10 tháng 12 năm 2014, Ngày Nhân quyền Quốc tế lần thứ 66.
Các tổ chức xã hội dân sự đồng ký tên:
1- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Thạc sĩ Phạm Bá Hải
2- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Tiến sĩ Nguyễn Quang A
3- Giáo hội Cao Đài. Đại diện: Các CTS Hứa Phi, Nguyễn Bạch Phụng, Nguyễn Kim Lân.
4- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa
5- Giáo Hội PGHH Thuần túy. Đại diện: Hội trưởng Lê Quang Liêm
6- Hiệp hội đoàn kết Công - Nông Việt Nam. Đại diện: Ông Nguyễn Mai.
7- Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Đại diện: Ông Nguyễn Bắc Truyển.
8- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ls Nguyễn Văn Đài
9- Hội Bảo vệ Quyền tự do tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân. 
10- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng
11- Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam. Đại diện: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế
12- Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam. Đại diện: Cô Huỳnh Thục Vy
13- Hội thánh Mennonite Chuồng bò. Đại diện: Ms Nguyễn Mạnh Hùng và Ms Lê Quang Du.
14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Kỹ sư Đỗ Nam Hải.
15- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Linh mục Phan Văn Lợi.
16- Phong trào Liên đới Dân oan Tranh đấu. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh.
17- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh
18- Văn phòng Công lý Hòa bình DCCT Sài Gòn. Đại diện: Linh mục Đinh Hữu Thoại.

Hải ngoại

19- Đài + báo Việt Nam Tự Do. Đại diện: Giáo sư Vương Kỳ Sơn.
20- Liên mạng truyền thông Báo Động. Đại diện: Ông Huỳnh Tâm
21- Ủy ban Yểm  trợ Khối 8406 New Orleans, HK. Đại diện: Giáo sư Vương Kỳ Sơn
22- Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước. Bà Đặng Thị Danh
23- Radio Toàn Dân Cứu Nước. Bà Trần Thị Hồng Khương.
24. Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam: Doãn Hưng Quốc.
25. Nghị Hội Diên Hồng Thời Đại: Phạm Trần Anh.



​​
​​B
à Trần Thị Hồng Cần Biểu Ngữ Kêu Oan Hồ Duy Hải
Trong Ngày Quốc tế Nhân Quyền tại Washington


Kính xin Qúy Tôn Trưởng Đồng bào
Dành chút thời giờ qúy báu ký vào 2 thỉnh Nguyện Thư dưới đây
góp bàn tay tấm lòng Cứu Mạng của Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải
Radio Toàn Dân Cứu Nước
Xin đa tạ
THỈNH NGUYỆN THƯ CHO NGUYEN VAN CHUONG

​




Kính thưa Quý Cô Bác, Anh chị em trong và ngoài Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta,
Tiến tha thiết van xin quý Cô Bác, Anh chị em hãy dành chút thì giờ ký vào Thỉnh Nguyện Thư  kèm theo đây, phổ biến Thỉnh Nguyện Thư đến bạn bè thân tín và trên nhiều Facebooks,  để xin Chính Phủ Mỹ can thiệp để em Hồ Huy Hải không bị giết oan trong những ngày sắp đến ( Án tử hình được hoản lại đến ngày 04 tháng 01, 2015).
Việc ký Thỉnh Nguyện Thư nầy không những chỉ cứu mạng sống cho em Hải, mang lại niềm vui vô tận cho Mẹ em và gia đình em mà Quan Trọng hơn cả là mang lại Công Lý, Lẽ Phải, Nhân Quyền cho Dân Tộc mình.
Kính mong quý Cô Bác, Anh chị em đừng nở bỏ qua. Xin chân thành cám ơn quý Cô bác, Anh chị em.
 Kính thư,
Đặng Thành Tiến.
Canada.


​

ĐỒNG BÀO ƠI XIN ĐỪNG VÔ CẢM
MỘT MẠNG NGƯỜI ĐANG CHỜ ĐỢI CHÚNG TA
Đồng bào ơi!  xin đừng vô cảm
Góp bàn tay cứu lấy mạng người
Án oan khiên kêu thấu đất trời
Trời cùng đau cho người dân nước Việt
Kẻ quyền lực
Giết người nhẩn nhơ ngoài pháp luật
Người dân đen phải gánh tội tình thay
Hãy nhanh tay đừng phó thác cho ai
Kêu cứu đến trái tim nhân loại

Nhân loại ơi! Việt nam chìm tăm tối
Tiếng kêu oan uất nghẹn của muôn người
Tiếng dân oan gào thét Quốc hội ơi !
Sao ngồi đó làm bù nhìn cho quyền lực

Luật pháp ơi!  Luật từ đâu tới!
Từ tham quan bộ chính trị trung ương
Luật pháp giết người không chút xót thương
Không đắn đo án oan kêu cứu

Đồng bào ơi! xin đừng vô cảm
Mạng con người đối diện với hiểm nguy
Một thanh niên đang chờ ngày hành quyết
Người dân đen đang réo gọi lương tri

Tôi vô tội hãy tìm ra thủ phạm
Đang ẩn trong quyền lực bạc tiền
Dấu vân tay sát thủ là của ai ?
Sao nỡ bắt người dân oan gánh tội

Đồng bào ơi ! xin đừng vô cảm
Nguyễn Văn Chưởng Hồ Duy Hải là những nạn nhân
Thủ phạm kia đang nắm cán cân
Cân quyền luật ngồi trên pháp luật

Tiếng kêu cứu oan khiên trong ngục tối
Triệu con người nhức nhói lệ vào tim
Non sông trong bóng tối đắm chìm
Góp bàn tay tháo gỡ gông xiềng
Lê Chân


Kính Mời Qúy Vị vào  Link Dưới Đây 
Theo Dõi
RADIO TOÀN DÂN CỨU NƯỚC





Thứ Ba 16/12/2014
-Tin Tức Thời Sự Việt Nam và Quốc Tế 
-Tường trình từ Việt Nam
- Các Tổ Chức Xã Hội Dân Sự Tại VN Ký Tên Vào Tuyên Bố
- Bà Trần Thị Hồng Khương Mạn Đàm với gia đình của 2 Nạn Nhân Hồ Duy Hải và Nguyễn văn Chưởng



​
​
Protesting wrongful death penalty ( kêu oan án tử hình )
Mother Nguyen Thi Loan from Thu Thua - Long An ( mẹ NTL thu thua long an )
Protesting the innocence of my son HDH ( kêu oan cho con HDH )
He did not kill anyone but was sentenced to death for someone else's crime ( không giet người mà bi án tử hình thay cho người khác )
Free HDH now ( trả tự do cho HDH ngay )

Người Mẹ kêu oan cho con là Hồ Duy Hải bị kết án Tử Hình


Xin đồng hương khắp nơi trên thế giới đồng thanh lên tiếng đến những Cơ Quan Quốc Tế Nhân Quyền, Hội Ân Xá Quốc Tế yêu cầu tìm ra sự thật
vì theo giám nghiệm của Cơ Quan Hình Sự Tỉnh Long An dấu vân tay tại hiện trường không trùng hợp với 10 dấu vân tay của Hồ Duy Hải


Thursday, December 11, 2014

Trang nhà bị Hacker đánh phá đúng vào “Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10-12-2014. Sau hơn 2 ngày vắng mặt, trang nhà trở lại cùng quý vị. Chân thành cáo lỗi cùng quý độc giả, Thân hữu.

PHẠM TRẦN ANH

Ý NGHĨA CỦA NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM Hôm nay nhân kỷ niệm năm thứ năm ngày thành lập hội và cũng là ngày kỷ niệm 66 năm ngày Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền 10-12-1948, tuyên dương lý tưởng nhân bản cao đẹp của nhân loại, một khuôn mẫư chung mà tất cả các dân tộc, tất cả các quốc gia phải thực hiện: “ Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền sống làm người, quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… để mọi người không còn nghèo khó và sợ hãi bạo quyền, nhân quyền phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người”.     

Thưa quý vị, bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền được ra đời do công trình của 40 tổ chức phi chính phủ ở Hoa Kỳ và các tấm lòng nhân hậu thể hiện lương tri của nhân loại đặc biệt là phu nhân của cố Tổng Thống HK Roosevelt quyết không để cho nhân loại bị nghiến nát dưới gót sắt độc tài phát xít như cuộc Thế chiến II. Bản tuyên ngôn cũng là sự kết hợp tính nhân đạo thuộc nhiều nền văn minh trên thế giới, từ ý niệm về nhân phẩm của phương Đông đến các quyền con người, quyền công dân được đúc kết từ các bản Tuyên ngôn trước đó như : Habeas corpus của Anh quốc năm 1679, Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789 và 1793). Bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền gồm 30 điều được dịch ra 375 ngôn ngữ phổ biến trên toàn thế  giới. Sau khi công bố bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, hai Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II đã  được Liên hiệp Quốc thông qua năm 1966 để  hoàn tất Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế, biểu trưng cho nền văn minh của nhân loại.

      Trong số  50 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc thời ấy, 40 quốc gia bỏ phiếu thuận, 8 quốc gia bỏ phiếu trắng và 2 nước vắng mặt là Honduras và Yemen. 8 nước bỏ phiếu trắng gồm có 6 nước Cộng sản, Arabie saoudite và Nam Phi. Cả  thế  giới không ngạc nhiên gì vì 2 nước Arabie Saoudite và Nam Phi bỏ phiếu trắng vì Arabie Saoudite  đang duy trì chế độ đa thê, Nam Phi thì  đang do người da trắng cai trị  với chủ  trương phân biệt chủng tộc, còn 6 nước CS bỏ phiếu trắng lại càng dễ hiểu hơn nữa vì nếu các quốc gia CS mà bỏ phiếu thuận nghĩa là phải tôn trọng các quyền tự do căn bản cũng như tôn trọng nhân phẩm của con người… thì làm sao thống trị được nhân dân. Nói một cách khác thì làm gì còn chế độ CS nữa.

      Ngày nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba nhưng chỉ còn vài ba nước CS trong đó có nhà nước CSVN vẫn không tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Họ cho rằng không thể áp đặt quan niệm phương Tây vào những hoàn cảnh điều kiện khác nhau của mỗi nước, họ cho rằng quyền độc lập dân tộc là quyền cao nhất nhưng chính những đảng viên CS lão thành đã thức tỉnh, uất thốt lên “Có độc lập mà không có tự do” thì độc lập làm gì? Trên thực tế cái mà người CS gọi là độc lập chỉ là chiêu bài ru ngủ quần chúng. Lịch sử chứng minh rằng CSVN đã lợi dụng danh nghĩa kháng chiến giành độc lập để bành trướng chủ nghĩa CS, “độc lập” để “Nội thuộc”  bành trướng Bắc Kinh mà thôi. Nhân loại văn minh đều tôn trọng giá trị nhân bản có tính phổ quát vì khi một người sinh ra thì họ đã là một người nên phải được hưởng đầy đủ những quyền căn bản của một con người, sau đó mới tới người đó sinh ra ở quốc gia nào và theo tôn giáo nào… Cho đến ngày nay mà nhà nước CHXHCNVN vẫn rêu rao là một nhà nước pháp quyền, có cả một rừng luật nên họ áp dụng luật rừng,  luật giang hồ, luật xã hội đen đối với đồng bào yêu nước ngay trong thời đại văn minh này. Sở dĩ chế độ CSVN phải dùng bộ máy công an đàn áp nhân dân không phải họ mạnh mà vì họ đang suy yếu dần, sự tồn tại của chế độ chỉ còn tính theo từng ngày từng tháng nên họ sợ nhân dân sẽ đứng lên lật đổ bạo quyền nên phải trấn áp để duy trì quyền lực để chia chác quyền lợi cho phe đảng mà nhân dân gọi là tập đoàn tư bản đỏ, mafia đỏ…

      Như chúng ta đã biết, sau khi xé bỏ hiệp định Paris đem quân xâm chiếm miền Nam, chế độ CS đã bắt các sĩ quan công chức chế độ VNCH đi “Học tập Cải Tạo” để trả thù quân cán chánh miền Nam. Hàng chục ngàn tù nhân “cải tạo” ốm đau đói khát đã chết trong các trại tù khắc nghiệt của CS vì bị trả thù hành hạ. Trên 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử trong đó có 2 linh mục và 2 phụ nữ. Đặc biệt chị Trần Thị Lan bị Việt gian Cộng sản xử tử hình tại sân vận động Gò Công năm 1976 trong lúc chị đang có thai 8 tháng đúng vào ngày Rằm tháng bảy, ngày lễ Vu Lan “Xá tội vong nhân”. Hành động tàn ác dã man này của chế độ CSVN đã vi phạm trầm trọng vào điều 6 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự chính Trị. Đây là một tội ác “Trời không dung, đất chẳng tha, Thần người đều căm hận” không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn là một tội ác đối với cả nhân loại.

      Đã ác với dân, tập đoàn Việt gian CS lại hèn với giặc, cam tâm dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Cộng. Bè lũ “Thái thú xác Việt hồn Tầu” này lại thẳng tay trấn áp, đánh đập, bỏ tù những đồng bào, thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ yêu nước xuống đường biểu tình chống Trung Quốc.

      Chính vì vậy, NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM được tổ chức để tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh trong công cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ, đồng thời vinh danh những chiến sĩ dân chủ, những tù nhân lương tâm của Việt Nam đang dũng cảm đấu tranh giành dân chủ tự do, đấu tranh chống kẻ nội thù “Việt gian bán nước” và chống giặc ngoại xâm Trung Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Thưa quý vị,

Hôm nay chúng ta tổ chức "Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam" chính là để để vinh danh những tù nhân chính trị, Tôn giáo đã đứng lên đấu tranh cho tự do, dân chủ sau ngày mất nước 30-4-1975. Chúng ta cùng tưởng niệm hơn 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam, những anh hùng dân tộc đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử.  Thưa quý vị, Ngày Tù nhân Lương tâm Việt nam đã  được sự  ủng hộ  nhiệt tình của 109 Hội đoàn, Đoàn thể  trong nước và  Hải ngoại cho “Ngày Tù Nhân Lương tâm Việt Nam” nên Quốc Hội Tiểu Bang California đã vinh danh “NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM” đúng vào ngày “Quốc Tế Nhân Quyền” 10-12 hàng năm. Chúng ta sẽ vận động công luận quốc tế yểm trợ hữu hiệu hơn cho công cuộc đấu tranh dân chủ nhằm giải thể chế độ CS bạo tàn, bất nhân Hại dân bán nước. Trong tương lai không xa, khi chế độ CS xụp đổ, chúng ta sẽ chọn ngày này là một ngày "Quốc Lễ" để tưởng niệm, Tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho lý tưởng Tự do. Chúng ta sẽ đi bốc mộ những anh em đã chết trong các trại tù đem về nghĩa trang quốc gia nên ngày này, cũng chính là ngày giỗ của những chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì lý tưởng tự do trong cuộc chiến, những đồng bào đã mất tích trên đường tìm tự do ...

Thưa quý vị,

 Trong không khí trang nghiêm này, chúng ta cùng thắp nén hương lòng tưởng nhớ và tri ân những anh hùng dân tộc, vinh danh những chiến sĩ dân chủ, giới nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các thanh niên sinh viên yêu nước và nhất là đồng bào Dân Oan trên toàn quốc đang xuống đường đấu tranh đòi dân chủ tự do, đòi cơm áo và quyền sống làm người, đòi phục hồi nhân phẩm và tài sản đất đai đã bị tước đoạt… Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ chế độ độc tài nào cũng phải xụp đổ khi quần chúng nhất loạt xuống đường chống độc tài tham nhũng, chống áp bức bất công để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. “Đại nghĩa tất thắng hung tàn, chí nhân phải thay cường bạo”, Tập đoàn Việt gian bán nước cũng sẽ chịu chung một số phận trong một ngày gần đây.

 Trân trọng kính chào quý vị. 

PHẠM TRẦN ANH   

Saturday, November 29, 2014

Giám đốc Mạng lưới báo chí điều tra toàn cầu: “Tự do báo chí ở Việt Nam tệ hơn rất nhiều”

Tác giả: Tâm Don- Alex Truong

 

(VNTB) - “ Mảng báo chí điều tra chỉ có thể phát triển trong một nền báo chí tự do. Hay nói một cách khác, tự do báo chí nuôi dưỡng mảng báo chí điều tra. Không có tự do báo chí sẽ không có báo chí điều tra. Báo chí điều tra là sự thể hiện sinh động sức sống của một nền báo chí có chất lượng”, ông David E. Kaplan- Giám đốc Mạng lưới báo chí điều tra toàn cầu (Global Investigative Journalism Network) đã nói như vậy trong lần gặp gỡ với Việt Nam Thời Báo (VNTB) tại Manila- Philippines.

 

VNTB: Hiểu một cách đơn giản, tự do báo chí đối với ông có nghĩa là gì?

 

Ông David E. Kaplan: Tự do báo chí là việc bạn có thể nói, đăng tải và phát sóng bất cứ gì bạn muốn. Trong một xã hội tự do, mọi người đều có quyền tranh luận với nhiều ý tưởng khác nhau. Tương tự thị trường hàng hóa và dịch vụ, bạn cũng cần một thị trường của những ý tưởng.

 

VNTB: Theo ông, quốc gia nào có chỉ số tự do báo chí cao nhất?

 

Ông David E. Kaplan: Câu hỏi này tôi không phải là chuyên gia để trả lời, một số tổ chức chuyên theo dõi vấn đề này sẽ biết rõ hơn tôi. Tuy nhiên, theo tôi thấy, thông thường những thứ hạng cao nhất thuộc về các nước Bắc Âu như Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan. Hoa Kỳ và Canada cũng có thứ hạng khá cao. Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản chấm dứt ở Liên Xô và Đông Âu, tự do báo chí đã lan rộng trên thế giới. Giờ đây hầu hết các nước đều có tự do báo chí nên nhà báo và những người làm nghề viết khác có thể đăng tải mọi điều họ muốn. Nhưng thật sự thì vẫn còn một số ít quốc gia cho rằng việc kiểm duyệt dư luận là cần thiết.

 

Trong một thế giới đã toàn cầu hóa, để cạnh tranh với các nước khác, bạn cần phải có dòng chảy tự do của thông tin. Nơi nào vẫn chưa gỡ bỏ gọng kìm kiểm soát truyền thông và tự do tư tưởng thì nơi đó sẽ bị tụt lại phía sau. Đó không chỉ là vấn đề nhân quyền mà nó còn là trở ngại cho phát triển kinh tế. Nhận thấy được điều đó nên Liên Hiệp Quốc đã ghi nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí là những quyền phổ quát.

 

VNTB: Vì sao các tổ chức quốc tế như Phóng Viên Không Biên Giới và Freedom House luôn xếp hạng những quốc gia có thể chế độc tài như Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam có chỉ số tự do báo chí thấp nhất?

 

Ông David E. Kaplan: Do tư duy lạc hậu của những người lãnh đạo vẫn còn sống trong quá khứ. Việt Nam vốn có tiềm năng vô cùng to lớn. Các bạn là những người rất chăm chỉ, các bạn còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên trù phú và một lớp người trẻ muốn hướng đến tương lai. Nhưng các bạn không thể hướng đến tương lai nếu không có tự do thông tin. Chủ trương kiểm soát mọi mặt thông tin trong xã hội đang ngày càng trở nên lỗi thời. Làm thế nào có thể giữ kín mọi bí mật trên Internet? Bạn không thể áp đặt sự kiểm soát lên thông tin khi mà ngày nay nó không còn bị ngăn trở bởi biên giới nữa. Vì vậy, điều quan trọng là bạn đưa được tiếng nói của mình đến với nhiều người. Tất nhiên, chính quyền Việt Nam có quyền trình bày quan điểm của họ, nhưng họ phải biết sống chung với các chỉ trích. Chính quyền cần học cách tiếp nhận các phê phán và chỉ trích như Tổng thống Barack Obama, Tổng thống Brazil hay Tổng thống của Indonesia ngày nay.

 

Việt Nam rồi sẽ thay đổi, đó không phải là câu hỏi “có hay không” mà là “khi nào” mà thôi. Kiểm soát thông tin chỉ hiệu quả trong thế kỷ 20. Bây giờ là thế kỷ 21, thời đại mà trên Internet thông tin có mọi cách để tìm đến mọi người. Vì vậy, với các nước như trên, khi nào họ mới tính đến viễn cảnh tương lai, bây giờ hay khi đã trễ?

 

VNTB: Trong tương lai gần và tương lai xa, chỉ số tự do ở các nước vừa nói trên liệu có được cải thiện không và mức độ cải thiện đến đâu?

 

Ông David E. Kaplan: Từ những bài học lịch sử gần đây, chúng ta thấy mọi chuyện sẽ thay đổi rất nhanh một khi thông tin gần như không thể bị ngăn chặn được nữa. Thanh niên ngày nay lớn lên trong sự tiếp nhận một lượng lớn thông tin từ Internet. Và bạn thử nhìn xem, chính quyền không còn có thể kiểm soát mọi thứ. Từ những thông tin ở cấp lãnh đạo chóp bu cho đến những vấn đề thời sự hằng ngày như y tế, thuốc men, giáo dục, hay tính hiệu quả của chính quyền địa phương. Ở những nước trải qua quá trình hiện đại hóa – Việt Nam đang bắt đầu quá trình này – sẽ xuất hiện một tầng lớp trung lưu. Những người từ tầng lớp này sẽ có những câu hỏi yêu cầu sự trả lời. Họ có quyền đặt câu hỏi. Bạn biết đấy, chẳng hạn như, ‘Vì sao dịch vụ hành khách công cộng lại không hoạt động hiệu quả?’, ‘Vì sao tuyến đường này vẫn chưa được sửa?’, hay ‘Vì sao ngày càng có nhiều công an nhận hối lộ?’. Không thể kìm nén những thắc mắc đó mãi được. Cuối cùng cả hệ thống sẽ thay đổi. Công việc của nhà báo đơn giản là đại diện cho tiếng nói của công chúng. Chúng ta là những người giám sát với nhiệm vụ phản ánh tâm tư và thắc mắc từ xã hội. Vì vậy khi tư duy và tiếng nói của xã hội ngày càng độc lập và mạnh mẽ hơn, báo chí cũng sẽ theo đó phát triển.

 

VNTB: Thưa ông, ông có quan tâm đến báo chí Việt Nam hay không? Theo ông, Việt Nam có tự do báo chí hay không và Việt Nam cần phải làm gì để có tự do báo chí?

 

Ông David E. Kaplan: Tôi nghĩ các bạn sẽ là người quyết định phải nên làm gì. Các bạn luôn phải đối mặt với nguy cơ tù tội, sách nhiễu và đàn áp vì những điều các bạn viết ra. Đó là việc rất khó để tôi có thể hiểu được, và tôi không muốn các bạn phải gặp bất kì nguy hiểm nào.

 

Truyền thông chỉ là một phần của xã hội, và xã hội của các bạn đang thay đổi. Vì vậy bên cạnh các nhà báo, có những người khác cũng đang nỗ lực cho cải cách. Đó là thanh niên, sinh viên, giới chuyên môn, tầng lớp trung lưu, những người làm ăn kinh doanh cần sự minh bạch thông tin; đó còn là các quan chức cấp tiến trong chính phủ các bạn. Áp lực thay đổi sẽ đến từ nhiều nơi khi xã hội dần hiện đại hóa.

 

Chúng ta biết rằng để quá trình hiện đại hóa diễn ra thành công, cần hội đủ các điều kiện gồm chính sách thương mại tốt, một nền kinh tế lành mạnh, dịch vụ y tế và giáo dục có chất lượng. Và chúng ta cũng cần có truyền thông độc lập với vai trò là người giám sát – một phần không thể thiếu. Một số quốc gia đang phát triển nhanh chóng là vì họ đã khôn ngoan nhìn thấy rõ điều này.

 

VNTB: So với các nước trong khu vực Đông Nam Á thì tự do báo chí ở Việt Nam tốt hơn hay tồi tệ hơn?

 

Ông David E. Kaplan: Phải nói là tệ hơn rất nhiều. Việt Nam hiện đang bị đẩy ra rìa, đất nước tách biệt so với các quốc gia còn lại. Myanmar đã bắt đầu hiện đại hóa và dỡ bỏ kiểm duyệt. Indonesia và Philippines giờ là những nước tự do. Thailand đang có dấu hiệu thụt lùi nhưng so với Việt Nam vẫn có sự tự do hơn. Bạn biết không, khi chúng tôi đang trong quá trình chuẩn bị hội thảo này (Hội thảo báo chí điều tra Châu Á lần thứ nhất), một nhà báo Việt Nam vì quá sợ nên đã từ chối có tên trong danh sách diễn giả. Đó là kiểu luật pháp gì khi mà làm một diễn giả trong một hội thảo cũng bị cho là phạm tội? Thật điên rồ.

 

VNTB: Việt Nam đang cầm tù rất nhiều nhà báo, blogger do họ có chính kiến khác với nhà cầm quyền. Ông đánh giá như thế nào về hành xử của chính quyền Việt Nam đối với sự bắt giữ này?

 

Ông David E. Kaplan: Trong ngắn hạn, những hành động này khiến những người cầm quyền cảm thấy an tâm, nhưng về lâu dài đó là sự lãng phí thời gian và phản tác dụng đối với xã hội. Cần có môi trường tự do trao đổi ý tưởng, cần có sự chấp nhận những khác biệt để tranh luận công bằng. Đó là cách một xã hội tiến lên. Thoạt nhìn đó là một không gian hỗn độn nhiều chiều nhưng cuối cùng lại rất hữu ích. Bởi nếu tồn tại tham nhũng, yếu kém, thiếu năng lực hay lãng phí trong quản lý, những vấn đề này sẽ được công khai trước ánh sáng. Và điều đó tốt cho tất cả mọi người từ trên cao xuống thấp.

 

Tóm lại, điều tôi muốn nói là truyền thông tự do và độc lập không chỉ đơn thuần là một quyền con người, nó còn là phần không thể thiếu của quá trình phát triển. Vì vậy, để Việt Nam tiến lên phía trước, song song với kinh tế, đất nước các bạn cũng cần mang lại tự do cho truyền thông báo chí.

 

Nguồn tin: http://www.ijavn.org/…/giam-oc-mang-luoi-bao-chi-ieu-tra-to…

 

Friday, November 21, 2014

Những người bất đồng chính kiến Việt Nam gặp Phó Thủ tưởng  Đức

Được sự giới thiệu của ông tham tán chính trị Đại sứ quán Đức tại Hà Nội là Felix Schwarz, tối 21/11/2014 tại khách sạn Sheraton Sài Gòn, những người bất đồng chính kiến Việt Nam có cuộc gặp gỡ thân mật với Phó thủ tưởng kiêm Tổng trưởng Bộ Kinh tế và Năng lượng Đức Sigmar Gabriel và các Quốc vụ khanh trong chính phủ Đức.

Những người được mời là: anh Phạm Bá Hải, Huỳnh Trọng Hiếu, Lê Quốc Quyết, Nguyễn Trí Dũng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Huỳnh Thục Vy đã đến điểm hẹn an toàn và không gặp sự ngăn chặn từ an ninh Sài Gòn vì cuộc gặp được sắp xếp rất bí mật và chu đáo.


​


​

Chuyến công du Việt Nam lần này của Phó Thủ tướng Đức đặt trọng tâm vào quan hệ kinh tế Việt-Đức. Nhưng chính Sigmar Gabriel cũng chia sẻ rằng: “Nếu thăm Việt Nam mà chỉ bàn về Kinh tế, bỏ qua hồ sơ Nhân quyền thì thật không đúng đắn và tử tế”.

Chúng tôi đã trao đổi khá nhiều về quan điểm đấu tranh, các thủ đoạn của nhà cầm quyền Việt Nam và mối liên hệ giữa kinh tế và chính trị trong bối cảnh Việt Nam. Ông thủ tưởng Đức cũng bước đầu tiếp nhận những thông tin vi phạm nhân quyền ở Việt Nam từ chúng tôi.

Ông Sigmar Gabriel là giới chức cao cấp nhất của Đức từng tiếp xúc với những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Và động thái này cho thấy Đức từng bước quan tâm đến vấn đề Chính trị và Nhân quyền trong mối quan hệ đối ngoại với Việt Nam. Tuy nhiên đây chỉ là khởi đầu cho thấy sự tử tế của cá nhân ông Felix, đại sứ quán Đức và chính phủ Đức; chứ chưa có dấu hiệu mở ra một khả năng lớn nào khác có thể tiên liệu được.

Dù sao, đây cũng là một cơ hội để chúng tôi, những người đang dấn thân cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam hiểu rõ hơn về cách suy nghĩ, cách làm việc của chính giới quốc tế. Từ đó có những hành động phù hợp và tích cực.

Điều tiên quyết và quan trọng nhất mà những người đấu tranh tại Việt Nam hay phong trào Dân chủ nói chung cần vận động là lòng dân, hay nói rõ hơn là sự nhận thức và hợp tác của các cộng đồng dân chúng tại quốc nội.

Nhưng những cuộc gặp gỡ như thế này với chính giới phương Tây cũng là dịp để chúng tôi thiết lập những kênh đối thoại trực tiếp với bên ngoài trong hoàn cảnh bị nhà cầm quyền cộng sản phong tỏa và ngăn chặn thường xuyên.

Huỳnh Thục Vy
Sài Gòn 22/11/2014

Friday, November 14, 2014




BẠCH THƯ

XÁC ĐỊNH CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ LÃNH HẢI CỦA QUỐC GIA VIỆT NAM

Lịch sử Trung Quốc là lịch sử của các cuộc xâm lược, đế quốc Đại Hán xâm lược các quốc gia láng giềng để thống trị, đồng hóa các dân tộc khác. Lịch sử chứng minh rằng, Hán tộc đã xâm lấn tiêu diệt các nước Bách Việt của Việt tộc, đẩy lùi Việt tộc khỏi địa bàn đất Tổ ở Trung nguyên tức Trung Quốc bây giờ. Lịch sử cũng chứng minh sự xâm lăng của Hán tộc đối với các tộc người Việt, Mông, Mãn, Tạng, Hồi để trở thành một đế quốc rộng lớn như ngày nay. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc với truyền thống kiên cường bất khuất bảo vệ từng từng tấc đất của tiền nhân để Tổ Quốc Việt Nam Trường tồn, Dân Tộc Việt Nam bất diệt.
 
CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

Nhà Trung Hoa Học, Học giả nổi tiếng Herold j. Wiens viết về các cuộc xâm lược của Trung Quốc như sau:“Phần lớn lãnh thổ Trung Quốc hiện nay chia theo thủy lưu cuả ba hệ thống sông ngòi chủ yếu, đó là: Hoàng Hà phiá Bắc, Dương Tử Giang phần giữa và Tây Giang phương Nam. Người Hoa Hán phát triển văn hoá trong khu vực Hoàng Hà, mở rộng vào vùng Dương Tử và rồi đến Tây Giang. Họ xâm lược đánh đuổi, tiêu diệt hoặc đồng hoá những bộ lạc đang cư ngụ trên những bình nguyên của sông Dương Tử và Tây Giang tức Việt Giang.”. “Đại Hán xưa” và “Đế quốc mới Trung Cộng” đã phát động 26 lần xâm lược Việt Nam từ thời Thương cho đến ngày nay. 

Lịch sử cổ đại Trung Quốc chép năm 1766 TDL, vua tộc Thương là Thành Thang đem quân du mục từ Tây Bắc tràn xuống tiêu diệt nhà Hạ của Việt tộc lập ra triều đại Thương đầu tiên của Trung Quốc. Cuộc hội thảo của các nhà Trung Hoa Học trên toàn thế giới kể cả Trung Quốc và Đài Loan về nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa tại Đại học Berkeley năm 1978 đã xác định “Người Việt cổ (Di Việt) là tộc người định cư đầu tiên trên lãnh thổ Trung Quốc”. Năm 1991, tạp chí National Geographic nổi tiếng của Hoa Kỳ ấn hành bản đồ Trung Quốc trong đó ghi rõ sự xâm lấn bành trướng của đế quốc ‘Đại Hán’. Bản đồ “History of China” đã cung cấp một chứng liệu lịch sử rõ ràng là lãnh thổ Trung Quốc thời Thương, Chu rất nhỏ trên lưu vực phía Bắc sông Hoàng Hà. National Geographic ghi rõ tộc Việt định cư ở lưu vực sông Dương Tử đã đinh cư định canh từ hơn 5 ngàn năm TDL là cư dân trồng lúa nước đầu tiên trên thế giới. 

HOÀNG SA TRƯỜNG SA, CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM

Lịch sử chứng minh rằng đến thời Triệu Vũ Đế của nước Nam Việt thì Âu Lạc vẫn tự trị. Khi quân Hán đánh chiếm Nam Việt, quân dân Nam Việt một số chạy ra đảo Hải Nam cùng với cư dân Lạc Lê ở địa phương tiếp tục chiến đấu nên năm 81 TDL, Hán triều phải bỏ Đam Nhĩ và đến năm 46 TDL, quân Hán lại phải bỏ Châu Nhai. Năm 32 Hán triều phải bãi chức Thái Thú Cửu Chân của Nhâm Diên và năm 34, Quang Vũ lại triệu hồi Tích Quang về kinh. Như vậy, đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa vẫn thuộc Việt Nam ngay từ thời Hán. Đây là chứng cớ lịch sử chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt tộc, là chứng cớ lịch sử hùng hồn nhất, thuyết phục nhất phản bác luận điệu “Biển Nam Hoa là biển lịch sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay’.

CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VIỆT NAM TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUỐC TẾ CÔNG PHÁP
 
Theo Quốc Tế Công Pháp, chiếu Án Lệ của tòa án quốc tế The Prague, chứng cứ của Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:

1. Phải có sự hành sử chủ quyền.

2. Liên tục và trường kỳ.

3. Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.

Đặc biệt, chính lịch sử của Trung Quốc đã phản bác luận điểm áp đặt của Trung Quốc về cái gọi là ‘Biển Lịch sử’. Thật vậy, Nguyên Sử là bộ sử của triều đại Nguyên (Mông) của Trung Quốc vào thế kỷ thứ 13 đã viết: “Cương vực Trung Quốc đời nhà Nguyên về phía Bắc không quá sa mạc Gobi và về phía Nam chỉ đến đảo Hải Nam”. Sách “Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư” xuất bản năm 1906 đời Quang Tự triều Thanh viết: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc huyện Quỳnh Châu đảo Hải Nam, vĩ tuyến 18…”. Trong khi đó,  Lê Quý Đôn trong “Phủ Biên Tạp Lục” và sau này Phan Huy Chú đã viết trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đây là nguồn sử liệu thành văn của các sử gia triều Lê và Nguyễn được xem là những chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam liên tục từ xa xưa đến thế kỷ XVII. Ngoài ra còn có sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí và Hoàng Việt Dư Địa Chí của Phan Huy Chú đã đề cập chi tiết về chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt Vua Gia Long đã đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa ngay từ năm 1802. Năm 1835, vua Minh Mạng cho dựng bia “Thần tử” ở đảo Hoàng Sa tỉnh Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi). Như vậy, trên phương diện Quốc Tế Công Pháp Việt Nam hội đủ các điều kiện pháp lý cần thiết để xác định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

CÁC HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ XÁC NHẬN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954  trong đó có Trung Quốc tham dự,  một lần nữa, đã xác nhận chủ quyền lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Tuyên Cáo Cairo 1943, Tuyên Ngôn Potsdam 1945, Hòa Ước Hòa Bình San Francisco 1951 và Hiệp Định Genève 1954 đều xác định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Ngày 27-1-1973 Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã ký Hiệp Định Hòa Bình Paris. Để thi hành Hiệp Định Paris, với sự chứng kiến của ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, 12 bên tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam đã ký Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam  ngày 2-3-1973, trong đó điều 4 qui định "Các bên ký kết Định Ước này trân trọng cam kết sẽ triệt để tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam".
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã ký vào Định Ước 2-3-1973 nhưng 10 tháng sau, tháng 1-1974, Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Hành động ngang ngược này của Trung Cộng bất chấp Tuyên Cáo Cairo, Tuyên Ngôn Potsdam, Hiệp Ước Hòa Bình San Francisco, Hiệp Định Genève và Định Ước của Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam. Ngoài ra Trung Quốc còn vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 

Sự xâm chiếm này không được luật pháp thừa nhận. Đại diện chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hiệp Quốc gửi công hàm đến chủ tịch Hội Đồng Bảo An và Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Ngày 14.2.1975, bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa công bố Bạch thư về Hoàng Sa và Trường Sa.

Đại Hội Diên Hồng Thời Đại, Quốc Dân Đại Hội của đồng bào Việt Nam ở trong nước và ở Hải Ngoại một lần nữa long trọng khẳng định trước công luận quốc tế: “Quần  đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền lịch sử không thể tranh cãi được của Việt Nam”. Nhân danh Quốc dân VN, Đại Hội Diên Hồng Thời Đại tuyên bố trước công luận quốc tế, công hàm bán nước 1958 của Phạm văn Đồng và cái gọi là ‘Mật ước Bán nước Thành Đô’ tháng 9 năm 1990 mà chính quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không do nhân dân Việt Nam bầu ra là hoàn toàn vô giá trị. 

Nhân dân Việt Nam quyết tâm tranh đấu giành lại Hoàng Sa, những đảo thuộc quần đảo Trường Sa và những gì đã mất do Tàu Hán xưa và đế quốc mới Trung Cộng ngày nay xâm chiếm trái phép.

Làm tại Little Saigon, Thủ Đô của Đồng Bào Tỵ Nạn Cộng Sản ngày 2-11-2014

ĐẠI HỘI DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI

 

https://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=_jVEnHsKd8Y

3187 Hội Nghị Diên Hồng Thời Đại Năm 2014 Tại Little Saigon Nam California (Freevn.net)



Đế Quốc Mới Trung Cộng không chỉ nguy hiểm về quân sự

Trung Cộng không chỉ nguy hiểm về quân sự 

 

image

 

Với 4000 tỷ usd thặng dư ngoại hối, khối dự trữ lớn này sẽ như quả “bom nguyên tử” đối với Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, nếu Trung Cộng không cân đối sử dụng chuẩn mực hài hòa giữa lợi ích và trách nhiệm thì “phóng xạ” của nó sẽ gây nên căng thẳng tác động tiêu cực đến một phần trật tự, kinh tế tài chính, xã hội toàn cầu”.

 

Ngày 10/11/2014 Nguyên thủ 21 nước thành viên lãnh đạo các nền kinh tế thuộc Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) Khai mạc phiên họp thượng đỉnh tại Thủ đô Bắc Kinh, Trung Cộng.

 

image

 

Danh chính ngôn thuận là “hợp tác” nhưng tại phiên họp APEC lần này (2014) người ta có cảm tưởng bên cạnh khái niệm “hợp tác ” (cùng nhau cho một việc chung) thì chính danh từ “tác” đi kèm lại nảy thêm một ý nghĩa khác là “tác động tạo ảnh hưởng riêng”- Thực tế chứng minh đã hiển hiện dù chưa đậm nét.

 

Một tháng, trước ngày thượng đỉnh APEC hội tụ, 2/10 trong chuyến thăm Indonesia quốc gia đông dân nhất trong khối Asean, tại diễn đàn Quốc Hội nước này ông CT/Tập Cận Bình thông báo Trung Cộng sẽ thành lập AIIB Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank).

 

Cũng nên lưu ý, cùng thời điểm này các đối tác Hiệp Ước “TPP” do Mỹ chủ động khởi xướng (không có Trung Cộng) đang nỗ lực đàm phán hy vọng đạt được một tuyên bố thỏa thuận chung.

 

image

Ông Tập Cận Bình phát biểu tại quốc hội Indonesia ở Jakarta.

 

Còn trước đó nữa tại Bắc Kinh ngày 24/10 ông Tập Cận Bình nước chủ nhà cùng đại diện các quốc gia Châu Á bao gồm: Ấn Độ, Bangladesh, Brunei, Campuchia, Kazakhstan, Kuwait, Lào, Malaysia, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Oman, Pakistan, Philippines, Qatar, Singapore, Sri Lanka, Thailand, Uzbekistan và Việt Nam đã cùng ký một bản ghi nhớ về việc thành lập ngân hàng AIIB mà số vốn khởi điểm chủ yếu từ Bắc Kinh sẽ là 50 tỷ usd và dự kiến tương lai gần tăng lên gấp đôi, theo kế hoạch sẽ chính thức hoạt động trong năm tới (2015). 


image

Tại Bắc Kinh ngày 24/10 ông Tập Cận Bình cùng đại diện 20 nước Châu Á, Asean “thai nghén”ngân hàng AIIB

 

“AIIB” một tổ chức ngân hàng “đa phương” trụ sở đặt tại Trung Cộng và do Trung Cộng “chủ xị” vốn 50 tỷ usd, như một thể chế tương tự Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Trung Cộng muốn thành lập AIIB như là một đối trọng với WB và ADB, những thể chế mà Bắc Kinh cho là hình thành từ nguồn vốn của Mỹ và Nhật bị 2 quốc gia này chi phối.

 

Bước đi này, tại khu vực Châu Á - Trung Cộng rõ ràng là trước tiên muốn đè bẹp “việt vị” ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á) “đóng băng” ảnh hưởng Nhật Bản chứ không muốn đạt một vị trí lớn hơn trong tổ chức này nếu nâng phần đóng góp của mình nhiều hơn.

 

Lại không thể không quan tâm, AIIB chẳng phải là “đột biến gen” mà là sản phẩm chính qui “made in China” nối tiếp theo sau một sản phẩm tài chính “cộm cáng” khác mà Trung Cộng tham gia thiết kế đã chào hàng, đó là hồi trung tuần tháng 7/2014 Khối BRICS (Trung Cộng, Brazil, Nga, Ấn Độ, và Nam Phi) loan báo thành lập một ngân hàng mới có vốn 50 tỷ usd để hỗ trợ cho công cuộc giảm thiểu nghèo túng trên thế giới. Tổ chức này có tên “Ngân hàng Phát triển Mới” (New Development Bank) trụ sở đặt tại Trung Cộng (Thượng Hải) Đây được xem là một nỗ lực của năm nước khối BRICS nhằm thay thế Ngân hàng Thế giới (WB) và phát huy ảnh hưởng của khối này trong hệ thống tài chánh toàn cầu.


image

Lãnh đạo 5 nước trong khối BRICS tại Fortaleza, Brazil, ngày 15/7/2014.

 

So sánh nguồn vốn USD từ AIIB = 50 tỷ và BRICS= 50 tỷ với ADB = 175 tỷ và WB = 223 tỷ, khoảng cách Trung Cộng đầu tư còn thấp (so với WB+ADB) tuy nhiên với con số thặng dư ngoại hối nắm trong tay gần 4000 tỷ usd người ta không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Bắc Kinh bất ngờ mở rộng hậu bao thêm nữa? Chuyện không phải là võ đoán, khi mới đây một quan chức ngành ngân hàng Trung Cộng khi đề cập việc Bắc Kinh thành lập AIIB nói rằng: "Trung Cộng cảm thấy không có ảnh hưởng gì ở WB và ADB hay IMF nên muốn thiết lập một hệ thống ngân hàng thế giới riêng như là điều tất yếu cần phải có của một nền kinh tế lớn” (WB nằm trong quỹ đạo của Mỹ, còn ADB là Nhật Bản. Tại ADB, Nhật Bản và Mỹ hiện là hai cổ đông lớn nhất với quyền bỏ phiếu lên tới 26%, trong khi Trung Cộng chỉ có 5,47%.)

 

11/11/2014, ngày thứ hai của Thượng đỉnh Diễn đàn (APEC) tại Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình “vui vẻ” thông báo, lãnh đạo các thành viên APEC đã thông qua “lộ trình” hướng tới việc thành lập FTAAP (Khu Vực Thương Mại Tự Do Châu Á Thái Bình Dương) . FTAAP bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cộng thêm 6 quốc gia khác ở Châu Á là Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, New Zealand và tất nhiên là Trung Cộng “chủ xị” - Bắc Kinh phớt lờ coi như Hoa Kỳ là khách không mời mà đến.

 

 image

 

Dự án FTAAP cạnh tranh với dự án Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương “TPP” mà Hoa Kỳ mong muốn thực hiện trong khuôn khổ chiến lược tái cân bằng lực lượng ở Châu Á, Trung Cộng bị gạt ra ngoài dự án này (TPP) và theo giới phân tích Trung Cộng, đây là một ý đồ của Mỹ nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Cộng ngày càng gia tăng trên các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao.

 

Các nền kinh tế APEC chiếm tới 51% tổng sản phẩm quốc nội thế giới và 44% trao đổi thương mại toàn cầu vì vậy Bắc Kinh rất ủng hộ dự án FTAAP ngược lại các thành viên APEC củng ủng hộ tiến trình hội nhập FTAAP bởi quyến rũ từ một thị trường khổng lồ hàng tỷ người tiêu dùng Trung Cộng.

 

Tất cả dường như là những “nước đi” đầy tính toán trên bàn cờ di động địa chính trị của Trung Cộng phục vụ cho khát vọng “bá quyền” nhuộm màu cực đoan.

 

image

 

Bởi người ta không lý giải nổi, Trung Cộng là một trong 5 thành viên “nước lớn” trong HĐBA/LHQ với kho vũ khí hạt nhân đầy ắp, đã phóng vệ tinh, đưa được người lên không gian trở về an toàn, cũng có nghĩa không nơi nào trên trái đất này mà đầu đạn hạt nhân liên lục địa của TQ không chồm tới, nếu chuẩn mực sống trong hòa bình thì liệu có nước nào dám khiêu chiến tấn công TQ? Vậy mà 2 thập niên qua, liên tiếp % ngân sách quân sự quốc phòng luôn gia tăng 2 con số? Trong khi thu nhập bình quân (GDP) người dân TQ chỉ 5.000 usd/năm so với khu tự trị Macau là 91.000usd- HongKong là 36.000usd và Đài Loan là 20.000usd… Dù Bắc Kinh đang thặng dư mậu dịch để dành trong hầu bao là 4000 tỷ USD!? 

 

Thêm một điều mà chúng ta cần lưu ý quan tâm là các định chế tài chính thế giới hiện có như WB (Ngân hàng Thế giới) ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á) hay IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) hoạt động trên tiêu chí đi kèm là “môi trường” và “nhân quyền” như là bổn phận trách nhiệm tất yếu phải cam kết nơi các đối tác thụ hưởng thì Trung Cộng nơi đang hy sinh môi trường để phát triển và cũng là nơi vi phạm nhân quyền nhất thế giới lại là “chủ xị” cho 2 định chế tài chính mới là AIIB và BRICS hầu mong cạnh tranh thay đổi cục diện!

 

Người ta có quyền hỏi, tại sao thừa tiền nhưng Trung Cộng không “rót” thêm vào WB, ADB hay IMF để nâng tỷ lệ vốn tạo thêm ảnh hưởng mà lại có chiều hướng mới như vậy? Không cần câu trả lời mà khái quát nhìn ra 4 hướng biên giới Trung Hoa lục địa…


image 

 

Trung Cộng có tất cả 14 láng giềng, quá khứ và hiện nay từng có tranh chấp lãnh thổ với tất cả, trừ Pakistan. Mao Trạch Đông cho rằng các quốc gia và vùng đất gồm Myanmar, Lào, Bắc Ấn Độ, Việt Nam, Nepal, Bhuttan, Thái Lan, Malaysia, Singapore, các hòn đảo Ryukyu, 300 hòn đảo trên Biển Đông, biển Hoa Đông, biển Hoàng Hải cùng với Kyrgyzstan, Mông Cổ, Đài Loan, Nam Kazakhstan, tỉnh Bahdashan và Transbaikalia của Afghanistan và vùng Viễn Đông cho tới Nam Okhotsk Nga... là của Trung Cộng “đáng lẽ” đã không bị mất nếu triều đại nhà Thanh không sụp đổ.(*)

 

Trung Cộng đang cuồng tín cực đoan trỗi dậy vì từ ngữ “đáng lẽ” này.

 

 image

 

Tóm lại với 4000 tỷ usd thặng dư ngoại hối, khối dự trữ lớn này sẽ như quả “bom nguyên tử” đối với Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, nếu Trung Cộng không cân đối sử dụng chuẩn mực hài hòa giữa lợi ích và trách nhiệm thì “phóng xạ” của nó sẽ gây nên căng thẳng tác động tiêu cực đến một phần trật tự, kinh tế tài chính, xã hội toàn cầu.

Hoàng Thanh Trúc